Nguồn:
Thị trường trái phiếu việt Nam: Một số vấn đề và giải pháp phát triển 4524 Thị trường trái khoán việt Nam: Một số vấn đề và giải pháp phát triểnThị trường trái khoán Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả nhất quyết. Nguồn: internet Hệ thống văn bản pháp lý cho hoạt động của thị trường càng ngày càng được hoàn thiện, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống giao thiệp, lưu ký, giám sát cũng liên tiếp được thiết lập, cải tiến với đích xây dựng một thị trường trái phiếu chuyên biệt và miêu tả được vai trò của mình trên thị trường vốn. Với đích xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu một cách bền vững, đảm bảo an toàn hệ thống và từng bước tiếp cận các thông lệ, chuẩn quốc tế để trở thành một kênh huy động vốn an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế, ngày 01/2/2013, Bộ Tài chính đã ban hành hình định 261/QĐ-BTC duyệt y lịch trình phát triển thị trường trái khoán Việt Nam đến năm 2020. Tuy nhiên, trong thời gian tới, để phát triển thị trường trái phiếu cũng như đạt được các đích đã đề ra theo đúng Lộ trình, còn có rất nhiều vấn đề đặt ra về cơ cấu thị trường, về sản phẩm cũng như nhà đầu tư, thị trường thứ cấp có mức thanh khoản thấp, hệ thống trung gian tài chính chưa chuyên nghiệp. Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam: Một số vấn đề cần quan tâm Thị trường TPDN còn kém phát triển Quy mô thị trường chính là yếu tố trước nhất để đánh giá thị trường đó có phát triển hay không. Tại Việt Nam, sau hơn 10 năm hoạt động, thị trường trái khoán đã có mức tăng trưởng tốt, bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2011 đạt hơn 40%, có thời điểm còn đạt mức tăng trưởng cao nhất so với các quốc gia khác trong khu vực. Hiện giờ, sản phẩm trên thị trường trái phiếu đốn được chia thành 2 loại là TPCP (bao gồm cả trái khoán được Chính phủ bảo lãnh và TPCQĐP) và TPDN. Với vai trò là kênh huy động vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, tỷ lệ giữa TPCP và TPDN thường không chênh lệch quá nhiều tại các quốc gia có thị trường tài chính phát triển. Nhưng tại Việt Nam thì tỷ lệ này có mức chênh lệch khá rõ ràng, phản ánh sự chi phối thị trường đến từ phân khúc TPCP. Có nhiều nguyên cớ dẫn đến việc thị trường TPDN có quy mô nhỏ, chưa phát triển so với TPCP hay rộng hơn là so với thị trường TPDN của các nước khác. Các duyên do này đến từ nhiều phía, có thể chia thành 4 duyên cớ chính: Chưa phát hành thành công trái phiếu có kỳ hạn dài Trên thị trường vốn, nguồn vốn ngắn hạn đốn được cung cấp bởi hệ thống NHTM, trong khi thị trường chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu) sẽ cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn. Theo thống kê trên thị trường quốc tế, kỳ hạn thường nhật của trái phiếu là khoảng 3 - 10 năm, cá biệt có những đợt phát hành với kỳ hạn lên tới 10 - 30 năm. Theo bảng trên thì trái phiếu được hội tụ phát hành nhiều nhất vào 2 kỳ hạn là 3 năm và 5 năm. Trái khoán kỳ hạn 10 năm gần đây đã được Kho bạc quốc gia và ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đẩy mạnh phát hành nhưng tỷ lệ trúng thầu không cao do không nhận được sự quan hoài từ phía nhà đầu tư. Cơ sở nhà đầu tư chưa đa dạng Khác với cổ phiếu, nhà đầu tư trên thị trường trái khoán đa phần là các nhà đầu tư tổ chức vì khối lượng trái khoán đấu thầu và giao thiệp có giá trị lớn nên nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư nhỏ lẻ khó có thể đáp ứng được. Tại các quốc gia phát triển, cơ sở nhà đầu tư luôn được đa dạng hóa, có sự cân đối giữa các nhóm nhà đầu tư nếu muốn duy trì lực cầu đều đặn trên thị trường. Các nhà đầu tư then chốt trên thị trường trái phiếu thường là các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, NHTM… Với thị trường trái phiếu Việt Nam, đã xuất hiện các nhóm nhà đầu tư tổ chức căn bản, nhưng mức độ dự của các nhà đầu tư này chưa thực thụ chuyên nghiệp. NHTM hiện đang là nhóm nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường trái khoán Việt Nam khi nắm giữ khoảng trên 80% lượng TPCP. Trong bối cảnh thị trường tín dụng đang gặp nhiều khó khăn 2 năm gần đây, nguồn vốn từ NHTM được đầu tư mạnh vào thị trường trái phiếu, giúp cho các đợt phát hành liên tục thành công. Công ty bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ được coi là một nhà đầu tư tiềm năng trên thị trường trái phiếu. Các hiệp đồng bảo hiểm nhân thọ thường có kỳ hạn dài, cộng thêm nhu cầu cần phải giữ tỷ lệ an toàn vốn cao, nên các công ty bảo hiểm luôn có một tỷ lệ nhất định TPCP trong cơ cấu vốn đầu tư của mình. Nhóm nhà đầu tư được quan tâm tiếp theo là các quỹ đầu tư. Các quỹ này hiện nắm giữ khoảng 6 - 7% dư nợ trái phiếu, phân bổ tới những loại hình quỹ khác nhau trong và ngoài nước. Rào cản lớn nhất ngăn các nhà đầu tư nước ngoài (đầu tư nước ngoài) tham dự vào thị trường trái khoán Việt Nam có nhẽ là sự hạn chế về mặt sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm phái sinh can dự đến tỷ giá. Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam Để đạt được những mục tiêu như Quyết định 261/QĐ-BTC đã đề ra đòi hỏi cần phải có một chiến lược nhất quán, đồng thời phát triển thị trường sơ cấp cũng như thứ cấp, hệ thống phạm vi pháp lý và các dịch vụ trung gian tài chính nhằm đưa thị trường hướng tới chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến những vấn đề sau: Hoàn thiện cấu trúc thị trường TPCP TPCP đóng vai trò quan trọng trong phát triển thị trường vốn Việt Nam. Tỷ lệ của TPCP (bao gồm cả TPCP bảo lãnh và TPCQĐP) trên tổng dư nợ trái khoán của Việt Nam lên tới 85%, tương đương với thị trường một số nước đang phát triển trong khu vực như Philippines, Indonesia, Thái Lan5#. Cơ sở hạ tầng của thị trường trái phiếu đã được cải tiến và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư, xúc tiến quá trình đăng ký, lưu ký, giao du và niêm yết trái phiếu trên thị trường thứ cấp nhằm tăng tính thanh khoản của trái khoán. Bởi vậy, để tiếp phát triển thị trường TPCP theo Lộ trình phát triển thị trường trái khoán đến năm 2020, cần hoàn thiện cấu trúc thị trường TPCP, trước hết, cần tăng tỷ trọng trái phiếu trung và dài hạn trong cơ cấu thị trường, kéo dài kỳ hạn vay qua phát hành TPCP trong nước giai đoạn 2011 - 2015 nhàng nhàng khoảng từ 4 - 6 năm và tuổi 2016 - 2020 lên khoảng từ 6 - 8 năm. Để thực hiện được điều này, thị trường trái phiếu cần phải phát triển ở mức cao hơn, đồng thời có sự ổn định về kinh tế vĩ mô, giúp các nhà đầu tư có niềm tin vào trái khoán có kỳ hạn dài. Ban sơ có thể phát hành thí điểm trái phiếu có kỳ hạn dài lên tới 30 năm, hướng tới các nhà đầu tư là công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí để thị trường làm quen với loại trái phiếu này. Bên cạnh đó, cần tăng cường thanh khoản trên thị trường thứ cấp. Về mặt nền tảng, có thể tiến hành cải tiến hệ thống giao dịch TPCP và trái khoán được Chính phủ bảo lãnh tại Sở giao du Chứng khoán Hà Nội (HNX), phù hợp với thực chất của giao dịch trái phiếu. Về mặt kỹ thuật, cần nghiên cứu ban hành những chuẩn về giao dịch như hợp đồng Repo mẫu, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các nhà đầu tư trên thị trường tiến hành giao thiệp. Phát triển thị trường TPDN Thị trường TPDN là một thị trường bộ phận quan trọng của thị trường trái phiếu với chức năng chính là một kênh huy động vốn "dự trữ" cho doanh nghiệp, tránh tình trạng quá phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Trong thời kì gần đây, mặc dù thị trường tín dụng đang được siết chặt lại, nhưng thị trường TPDN vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc. Năm 2012, chỉ có 43 doanh nghiệp đăng ký phát hành trái phiếu với tổng giá trị đạt 33.737 tỷ đồng và phát hành thành công 24.328 tỷ đồng, chỉ bằng suýt soát 15% lượng vốn mà TPCP và trái khoán được Chính phủ bảo lãnh huy động được. Từ quá trình phát triển thị trường TPDN của các quốc gia như Malaysia (dư nợ TPDN chiếm 42% GDP) hay Hàn Quốc (dư nợ TPDN chiếm 75% GDP) có thể thấy một số điểm quan trọng mà Việt Nam cần tập kết trước nhất như: Trước hết, phải minh bạch hóa thông báo về doanh nghiệp, các đợt phát hành, cách thức dùng vốn huy động thông qua một hệ thống thông báo trái khoán (tương tự Hệ thống công bố thông báo trái phiếu BIDS - Bond Information Dissemination System của Malaysia). Để thực hiện yêu cầu này, đòi hỏi trên thị trường phải có những tổ chức định mức tín nhiệm hay công ty giám sát độc lập. Kinh nghiệm của các nhà nước ASEAN chỉ ra rằng sự có mặt của những tổ chức định mức tín nhiệm tốt là một yếu tố quan trọng trong việc định giá. Tuy nhiên, những tổ chức định mức tín nhiệm địa phương lại dùng phương pháp đánh giá có nhiều khác biệt so với quốc tế, chưa xây dựng được những chi tiết như lịch trình hoạt động của doanh nghiệp, trong khi các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế chỉ thực hành đánh giá các doanh nghiệp lớn phát hành ở khuôn khổ quốc tế. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa nguồn cung sản phẩm trên thị trường ngoài trái phiếu trả lãi định kỳ và trái phiếu chuyển đổi. Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu phát triển thêm các loại chứng khoán có bảo đảm như chứng khoán hóa nợ vay bất động sản (MBS), chứng khoán đảm bảo bằng tài sản (ABS)… Ngoài ra, kinh nghiệm thực tế cho thấy, khi kinh tế càng khó khăn thì nhà đầu tư sẽ tìm đến với các kênh đầu tư an toàn như TPCP thay vì TPDN. Nên internet fpt tan phu chi, để có thể phát triển thị trường TPDN, cần phải tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh dinh có hiệu quả bởi nếu doanh nghiệp không có tiềm lực kinh tế, hoạt động kinh doanh thua lỗ và không kiến lập được lòng tin đối với giới đầu tư thì việc huy động vốn qua thị trường trái khoán của doanh nghiệp vẫn sẽ gặp khó khăn, thị trường TPDN theo đó cũng sẽ chẳng thể phát triển được. Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư Hệ thống nhà đầu tư đa dạng là một yếu tố quan trọng trên thị trường, hoàn toàn hạp với mục tiêu phát triển cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Tại các nhà nước khác trong khu vực, đối tượng tham gia trên thị trường trái khoán bao gồm nhiều loại hình nhà đầu tư như tổ chức an sinh tầng lớp, công ty bảo hiểm, tổ chức tài chính... Với NHTM là rường cột đầu tư chính. Chả hạn như tại Malaysia, các NHTM nắm giữ tới 43% dư nợ TPCP, tiếp đến là nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức an sinh từng lớp (lần lượt nắm giữ 31% và 20% dư nợ TPCP). Các công ty bảo hiểm và cơ quan quốc gia chỉ nắm giữ một phần nhỏ trái phiếu phát hành7#. Để phát triển cơ sở nhà đầu tư, nhiệm vụ trước tiên đối với Việt Nam là cần tăng cường tính chuyên nghiệp đối với các nhà đầu tư hiện có, sau đó là mở mang thị trường tới các nhà đầu tư mới; giảm dần sự phụ thuộc của thị trường vào khối nhà đầu tư là các NHTM, tăng tỷ trọng TPCP, trái khoán được Chính phủ bảo lãnh do khối các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, Công ty Quản lý quỹ nắm giữ từ mức 12% (2011) lên mức 20% (2020). Từ mục tiêu đó, có thể đưa ra một số giải pháp thích hợp như sau: (i) Sửa đổi Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg cho phép Bảo hiểm tầng lớp được đầu tư vào TPDN theo một tỷ lệ nhất định; (ii) Tăng cường việc đầu tư vào thị trường trái phiếu của công ty bảo hiểm và Công ty Quản lý quỹ; (iii) Khuyến khích sự dự của các nhà đầu tư khác như Bảo hiểm tiền gửi, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư trái khoán, nhà đầu tư cá nhân chủ nghĩa; (iv) Tăng hiệu quả sử dụng đồng vốn của các định chế tài chính khác (SCIC, DATC) bằng cách đặt ra quy định hạn chế các tổ chức này gửi tiền mà phải đầu tư vào trái phiếu. Ngoại giả, nhóm nhà đầu tư khá quan yếu mà trên thị trường trái khoán Việt Nam còn thiếu, đó chính là các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài. Theo kinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu của các quốc gia ASEAN, trong năm loại sản phẩm phái sinh chính (tỷ giá, lãi suất, cổ phiếu, hàng hóa, tín dụng), sản phẩm phái sinh tỷ giá có mức tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Duyên cớ là do các nhà đầu tư tổ chức thường lo ngại về rủi ro tỷ giá mỗi khi đầu tư ra nước ngoài. Hoàn thiện cơ chế chính sách cho sự phát triển của thị trường TPCP và TPDN Tiềm năng phát triển thị trường trái khoán của Việt Nam vẫn còn rất lớn, bởi thế, để khơi thông thị trường này, cần hoàn thiện cơ chế chính sách theo internet fpt thanh hoa hướng: Xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty định mức tín nhiệm tại thị trường trong nước; quỹ hưu trí bổ sung tình nguyện. Sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách về phát hành TPCP, lắp mạng fpt Hà Nội trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và TPCQĐP theo hướng thống nhất địa điểm đấu thầu TPCP tại HNX, thiết lập cơ chế nhà kiến lập thị trường trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp TPCP và cơ chế tính sổ trái phiếu qua nhà băng Nhà nước nhằm tạo sự hợp nhất của thị trường. Sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách về phát hành TPDN theo hướng kiểm tra lại điều kiện phát hành trái phiếu trên cơ sở xem xét việc quy định buộc có hệ số tín nhiệm đối với các đợt phát hành trái khoán tại thị trường trong nước sau khi cơ chế về xếp hạng tín nhiệm được ban hành. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa việc phát hành tín phiếu NHNN và phát hành tín phiếu ngân khố nhằm bảo đảm sự phát triển hợp nhất của thị trường và tăng cường sự phối hợp chặt chịa giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Nguồn NDH.Vn Thị trường trái phiếu Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả nhất định. Nguồn: internet Hệ thống văn bản pháp lý cho hoạt động của thị trường ngày một được hoàn thiện, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống giao du, lưu ký, giám sát cũng liên tục được thiết lập, cải tiến với đích xây dựng một thị trường trái khoán chuyên biệt và bộc lộ được vai trò của mình trên thị trường vốn. Với mục tiêu xây dựng và phát triển thị trường trái khoán một cách bền vững, đảm bảo an toàn hệ thống và từng bước tiếp cận các thông lệ, chuẩn quốc tế để trở thành một kênh huy động vốn an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế, ngày 01/2/2013, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 261/QĐ-BTC duyệt lịch trình phát triển thị trường trái khoán Việt Nam đến năm 2020. Tuy nhiên, trong thời gian tới, để phát triển thị trường trái phiếu cũng như đạt được các mục tiêu đã đề ra theo đúng Lộ trình, còn có rất nhiều vấn đề đặt ra về cơ cấu thị trường, về sản phẩm cũng như nhà đầu tư, thị trường thứ cấp có mức thanh khoản thấp, hệ thống trung gian tài chính chưa chuyên nghiệp. Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam: Một số vấn đề cần quan tâm Thị trường TPDN còn kém phát triển Quy mô thị trường chính là yếu tố trước tiên để đánh giá thị trường đó có phát triển hay không. Tại Việt Nam, sau hơn 10 năm hoạt động, thị trường trái khoán đã có mức tăng trưởng tốt, bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2011 đạt hơn fpt internet dalat 40%, có thời điểm còn đạt mức tăng trưởng cao nhất so với các quốc gia khác trong khu vực. Hiện thời, sản phẩm trên thị trường lắp internet fpt Hà Nội trái khoán đốn được chia thành 2 loại là TPCP (bao gồm cả trái khoán được Chính phủ bảo lãnh và TPCQĐP) và TPDN. Với vai trò là kênh huy động vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, tỷ lệ giữa TPCP và TPDN thường không chênh lệch quá nhiều tại các quốc gia có thị trường tài chính phát triển. Nhưng tại Việt Nam thì tỷ lệ này có mức chênh lệch khá rõ ràng, phản ảnh sự chi phối thị trường đến từ phân khúc TPCP. Có nhiều căn nguyên dẫn đến việc thị trường TPDN có quy mô nhỏ, chưa phát triển so với TPCP hay rộng hơn là so với thị trường TPDN của các nước khác. Các nguyên cớ này đến từ nhiều phía, có thể chia thành 4 duyên do chính: Chưa phát hành thành công trái phiếu có kỳ hạn dài Trên thị trường vốn, nguồn vốn ngắn hạn đốn được cung cấp bởi hệ thống NHTM, trong khi thị trường chứng khoán (trái khoán, cổ phiếu) sẽ cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn. Theo thống kê trên thị trường quốc tế, kỳ hạn bình thường của trái khoán là khoảng 3 - 10 năm, cá biệt có những đợt phát hành với kỳ hạn lên tới 10 - 30 năm. Theo bảng trên thì trái khoán được giao hội phát hành nhiều nhất vào 2 kỳ hạn là 3 năm và 5 năm. Trái phiếu kỳ hạn 10 năm gần đây đã được ngân khố quốc gia và nhà băng Phát triển Việt Nam (VDB) đẩy mạnh phát hành nhưng tỷ lệ trúng thầu không cao do không nhận được sự quan tâm từ phía nhà đầu tư. Cơ sở nhà đầu tư chưa đa dạng Khác với cổ phiếu, nhà đầu tư trên thị trường trái khoán đa phần là các nhà đầu tư tổ chức vì khối lượng trái khoán đấu thầu và giao dịch có giá trị lớn nên nhà đầu tư cá nhân chủ nghĩa, nhà đầu tư nhỏ lẻ khó có thể đáp ứng được. Tại các nhà nước phát triển, cơ sở nhà đầu tư luôn được đa dạng hóa, có sự cân đối giữa các nhóm nhà đầu tư nếu muốn duy trì lực cầu đều đặn trên thị trường. Các nhà đầu tư then chốt trên thị trường trái phiếu thường là các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, NHTM… Với thị trường trái khoán Việt Nam, đã xuất hiện các nhóm nhà đầu tư tổ chức căn bản, nhưng chừng độ dự của các nhà đầu tư này chưa thực thụ chuyên nghiệp. NHTM hiện đang là nhóm nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường trái phiếu Việt Nam khi nắm giữ khoảng trên 80% lượng TPCP. Trong bối cảnh thị trường tín dụng đang gặp nhiều khó khăn 2 năm gần đây, nguồn vốn từ NHTM được đầu tư mạnh vào thị trường trái khoán, giúp cho các đợt phát hành liên tục thành công. Công ty bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ được coi là một nhà đầu tư tiềm năng trên thị trường trái phiếu. Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường có kỳ hạn dài, cộng thêm nhu cầu cần phải giữ tỷ lệ an toàn vốn cao, nên các công ty bảo hiểm luôn có một tỷ lệ nhất định TPCP trong cơ cấu vốn đầu tư của mình. Nhóm nhà đầu tư được quan hoài tiếp theo là các quỹ đầu tư. Các quỹ này hiện nắm giữ khoảng 6 - 7% dư nợ trái phiếu, phân bổ tới những loại hình quỹ khác nhau trong và ngoài nước. Rào cản lớn nhất ngăn các nhà đầu tư nước ngoài (đầu tư nước ngoài) tham dự vào thị trường trái phiếu Việt Nam có lẽ là sự hạn chế về mặt sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm phái sinh liên quan đến tỷ giá. Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam Để đạt được những đích như Quyết định 261/QĐ-BTC đã đề ra đòi hỏi cần phải có một chiến lược nhất quán, đồng thời phát triển thị trường sơ cấp cũng như thứ cấp, hệ thống phạm vi pháp lý và các dịch vụ trung gian tài chính nhằm đưa thị trường hướng tới chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến những vấn đề sau: Hoàn thiện cấu trúc thị trường TPCP TPCP đóng vai trò quan yếu trong phát triển thị trường vốn Việt Nam. Tỷ lệ của TPCP (bao gồm cả TPCP bảo lãnh và TPCQĐP) trên tổng dư nợ trái phiếu của Việt Nam lên tới 85%, tương đương với thị trường một số nước đang phát triển trong khu vực như Philippines, Indonesia, Thái Lan5#. Cơ sở hạ tầng của thị trường trái phiếu đã được cải tiến và hoàn thiện để đáp ứng đề nghị của nhà đầu tư, thúc đẩy quá trình đăng ký, lưu ký, giao du và niêm yết trái fpt internet dien thoai ho tro khoán trên thị trường thứ cấp nhằm tăng tính thanh khoản của trái khoán. Vì thế, để tiếp chuyện phát triển thị trường TPCP theo lịch trình phát triển thị trường trái khoán đến năm 2020, cần hoàn thiện cấu trúc thị trường TPCP, trước tiên, cần tăng tỷ trọng trái khoán trung và dài hạn trong cơ cấu thị trường, kéo dài kỳ hạn vay qua phát hành TPCP trong nước tuổi 2011 - 2015 nhàng nhàng khoảng từ 4 - 6 năm và thời đoạn 2016 - 2020 lên khoảng từ 6 - 8 năm. Để thực hành được điều này, thị trường trái khoán cần phải phát triển ở mức cao hơn, song song có sự ổn định về kinh tế vĩ mô, giúp các nhà đầu tư có niềm tin vào trái phiếu có kỳ hạn dài. Ban đầu có thể phát hành thí nghiệm trái phiếu có kỳ hạn dài lên tới 30 năm, hướng tới các nhà đầu tư là công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí để thị trường làm quen với loại trái phiếu này. Bên cạnh đó, cần tăng cường thanh khoản trên thị trường thứ cấp. Về mặt nền tảng, có thể tiến hành cải tiến hệ thống giao tiếp TPCP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh tại Sở giao tế Chứng khoán Hà Nội (HNX), hợp với thực chất của giao du trái khoán. Về mặt kỹ thuật, cần nghiên cứu ban hành những chuẩn về giao tế như hợp đồng Repo mẫu, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các nhà đầu tư trên thị trường tiến hành giao tế. Phát triển thị trường TPDN Thị trường TPDN là một thị trường bộ phận quan trọng của thị trường trái phiếu với chức năng chính là một kênh huy động vốn "dự trữ" cho doanh nghiệp, tránh tình trạng quá phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng nhà băng. Trong thời gian gần đây, dù rằng thị trường tín dụng đang được siết chặt lại, nhưng thị trường TPDN vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc. Năm 2012, chỉ có 43 doanh nghiệp đăng ký phát hành trái phiếu với tổng giá trị đạt 33.737 tỷ đồng và phát hành thành công 24.328 tỷ đồng, chỉ bằng ngót nghét 15% lượng vốn mà TPCP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh huy động được. Từ quá trình phát triển thị trường TPDN của các quốc gia như Malaysia (dư nợ TPDN chiếm 42% GDP) hay Hàn Quốc (dư nợ TPDN chiếm 75% GDP) có thể thấy một số điểm quan yếu mà Việt Nam cần tập kết trước nhất như: Trước hết, phải minh bạch hóa thông tin về doanh nghiệp, các đợt phát hành, cách thức dùng vốn huy động chuẩn y một hệ thống thông tin trái phiếu (tương tự Hệ thống ban bố thông tin trái phiếu BIDS - Bond Information Dissemination System của Malaysia). Để thực hành đề nghị này, đòi hỏi trên thị trường phải có những tổ chức định mức tín nhiệm hay công ty giám sát độc lập. Kinh nghiệm của các quốc gia ASEAN chỉ ra rằng sự có mặt của những tổ chức định mức tín nhiệm tốt là một nguyên tố quan trọng trong việc định giá. Tuy nhiên, những tổ chức định mức tín nhiệm địa phương lại sử dụng phương pháp đánh giá có nhiều dị biệt so với quốc tế, chưa xây dựng được những chi tiết như lộ trình hoạt động của doanh nghiệp, trong khi các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế chỉ thực hành đánh giá các doanh nghiệp lớn phát hành ở phạm vi quốc tế. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa nguồn cung sản phẩm trên thị trường ngoài trái khoán trả lãi định kỳ và trái khoán chuyển đổi. Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu phát triển thêm các loại chứng khoán có bảo đảm như chứng khoán hóa nợ vay bất động sản (MBS), chứng khoán đảm bảo bằng tài sản (ABS)… Ngoại giả, kinh nghiệm thực tại cho thấy, khi kinh tế càng khó khăn thì nhà đầu tư sẽ tìm đến với các kênh đầu tư an toàn như TPCP thay vì TPDN. Bởi thế, để có thể phát triển thị trường TPDN, cần phải tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp internet fpt quan 10 kinh dinh có hiệu quả bởi nếu doanh nghiệp không có tiềm lực kinh tế, hoạt động kinh doanh thua lỗ và không tạo dựng được lòng tin đối với giới đầu tư thì việc huy động vốn qua thị trường trái phiếu của doanh nghiệp vẫn sẽ gặp khó khăn, thị trường TPDN theo đó cũng sẽ không thể phát triển được. Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư Hệ thống nhà đầu tư đa dạng là một yếu tố quan yếu trên thị trường, hoàn toàn hiệp với đích phát triển cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Tại các quốc gia khác trong khu vực, đối tượng tham gia trên thị trường trái phiếu bao gồm nhiều loại hình nhà đầu tư như tổ chức an sinh từng lớp, công ty bảo hiểm, tổ chức tài chính... Với NHTM là trụ cột đầu tư chính. Chả hạn như tại Malaysia, các NHTM nắm giữ tới 43% dư nợ TPCP, tiếp đến là nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức an sinh từng lớp (lần lượt nắm giữ 31% và 20% dư nợ TPCP). Các công ty bảo hiểm và cơ quan Nhà nước chỉ nắm giữ một phần nhỏ trái phiếu phát hành7#. Để phát triển cơ sở nhà đầu tư, nhiệm vụ trước tiên đối với Việt Nam là cần tăng cường tính chuyên nghiệp đối với các nhà đầu tư hiện có, sau đó là mở mang thị trường tới các nhà đầu tư mới; giảm dần sự phụ thuộc của thị trường vào khối nhà đầu tư là các NHTM, tăng tỷ trọng TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do khối các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, Công ty Quản lý quỹ nắm giữ từ mức 12% (2011) lên mức 20% (2020). Từ mục tiêu đó, có thể đưa ra một số giải pháp ăn nhập như sau: (i) Sửa đổi Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg cho phép Bảo hiểm xã hội được đầu tư vào TPDN theo một tỷ lệ cố định; (ii) Tăng cường việc đầu tư vào thị trường trái khoán của công ty bảo hiểm và Công ty Quản lý quỹ; (iii) Khuyến khích sự tham dự của các nhà đầu tư khác như Bảo hiểm tiền gửi, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư trái khoán, nhà đầu tư cá nhân chủ nghĩa; (iv) Tăng hiệu quả sử dụng đồng vốn của các định chế tài chính khác (SCIC, DATC) bằng cách đặt ra quy định hạn chế các tổ chức này gửi tiền mà phải đầu tư vào trái khoán. Ngoài ra, nhóm nhà đầu tư khá quan trọng mà trên thị trường trái phiếu Việt Nam còn thiếu, đó chính là các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài. Theo kinh nghiệm phát triển thị trường trái khoán của các quốc gia ASEAN, trong năm loại sản phẩm phái sinh chính (tỷ giá, lãi suất, cổ phiếu, hàng hóa, tín dụng), sản phẩm phái sinh tỷ giá có mức tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Căn do là do các nhà đầu tư tổ chức thường lo ngại về rủi ro tỷ giá mỗi khi đầu tư ra nước ngoài. Hoàn thiện cơ chế chính sách cho sự phát triển của thị trường TPCP và TPDN Tiềm năng phát triển thị trường trái khoán của Việt Nam vẫn còn rất lớn, thành ra, để khơi thông thị trường này, cần hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng: Xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty định mức tín nhiệm tại thị trường trong nước; quỹ hưu trí bổ sung tình nguyện. Sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách về phát hành TPCP, trái khoán được Chính phủ bảo lãnh và TPCQĐP theo hướng hợp nhất địa điểm đấu thầu TPCP tại HNX, thiết lập cơ chế nhà tạo dựng thị trường trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp TPCP và cơ chế tính sổ trái phiếu qua ngân hàng quốc gia nhằm tạo sự thống nhất của thị trường. Sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách về phát hành TPDN theo hướng thẩm tra lại điều kiện phát hành trái phiếu trên cơ sở xem xét việc quy định bắt có hệ số tín nhiệm đối với các đợt phát hành trái phiếu tại thị trường trong nước sau khi cơ chế về xếp hạng tín nhiệm được ban hành. Xây dựng cơ chế kết hợp giữa việc phát hành tín phiếu NHNN và phát hành tín phiếu ngân khố nhằm đảm bảo sự phát triển thống nhất của thị trường và tăng cường sự kết hợp chặt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. |
Link: http://gafin.Vn/2013121011365573p0c34/thi-truong-trai-phieu-viet-nam-mot-so-van-de-va-giai-phap-phat-trien.Htm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét